Động học quá trình mài răng bao hình là một quá trình phối hợp chuyển động phức tạp trên cơ sở nhắc lại ăn khớp của thanh răng có 1 răng với bánh răng.
Sơ đồ mài răng bao hình (Hình 3.29) mô tả các thành phần chuyển động cần thiết cho quá trình mài răng.
nđ: Chuyển động quay của đá mài, tạo ra tốc độ cắt chính.
Sđ: Chuyển động tịnh tiến thẳng đứng của đá mài dọc theo đường răng của thanh răng.
T1: Chuyển động chạy dao dọc theo thanh răng, tạo ra tốc độ bao hình.
nf: Chuyển động quay của phôi bánh răng là chuyển động quay phức hợp thực hiện chức năng bao hình và phân độ của hai nhóm động học tương ứng:
Nhóm động học bao hình ϕc(T1,nf): Hình thành trong thời gian bao hình biên
dạng răng (tct).
Nhóm động học phân độ ϕfđ(nf): Tồn tại trong suốt chu kỳ mài răng (T)
Chuyển động bao hình và phân độ trong chu kỳ mài răng:
Đá mài (được tạo hình theo biên dạng sinh) chỉ đại diện cho một răng của thanh răng cho nên chu kỳ gia công chỉ mài một răng. Kể từ khi bắt đầu mài đến hết mài
(thời gian công tác: tct) là quá trình nhắc lại ăn khớp thanh răng-bánh răng để bao hình. Tiếp theo đá mài lùi ra và chuyển động T1 đảo chiều về vị trí bắt đầu và tiến
vào mài răng khác (thời gian chạy không- tck) . Trong khoảng thời gian công tác và thời gian chạy không (chu kỳ- T) phôi vẫn quay theo một chiều, một chu kỳ phôi
quay đuợc một góc chứa Zi răng để phân độ mài răng tiếp theo. Như vậy quá trình phân độ kéo dài trong cả chu kỳ. Tóm lại trong thời gian công tác quá trình bao hình
và quá trình phân độ xảy ra song song, trong thời gian chạy không chỉ còn quá trình phân độ nối tiếp vào quá trình bao hình. Chuyển động quay của phôi tham gia cả hai
nhóm động học bao hình và phân độ theo cấu trúc hỗn hợp. Sơ đồ (Hình 3.30) mô tả quan hệ giữa chuyển động bao hình và chuyển động phân độ theo chu kỳ gia công
một răng.
Nhóm động học bao hình biên dạng răng và nhóm động học phân độ cùng có khâu chấp hành chung là bàn máy mang phôi bánh răng. Sử dụng cơ cấu đảo chiều chuyển động có chu kỳ chính xác bằng bánh răng tổ hợp, để nối hỗn hợp hai nhóm động học này. Nối động các nhóm động học cần thiết cho mài bao hình để thành lập sơ đồ cấu trúc động học máy (hình 3.31) với các xích điều chỉnh sau:
- Xích tốc độ: Động cơ M1-1-2-iv-3-4- Trục chính đá mài.
Lượng di động tính toán:
nđ/c (V/P) động cơ M1 → nd (V/P) Đá mài
Phương trình điều chỉnh động học:![]()
Công thức điều chỉnh động học:
iv = Cv X nđ (3.29)
- Chuyển động chạy dao đứng: (không biểu diễn trên sơ đồ) chuyển động chạy dao
đứng trong quá trình mài đòi hỏi phải có chuyển động đều, êm, điều chỉnh vô cấp.
vì vậy thường dùng hệ thống thuỷ lực để truyền dẫn. - Xích chạy dao theo chu kỳ: Chu kỳ mài răng được phản ánh qua hoạt động của
cơ cấu bánh răng tổ hợp. Thời gian chu kỳ chính là thời gian bánh răng chủ động
của cơ cấu quay nz0 vòng ăn khớp hết một lượt trên vành răng tổ hợp để thực hiện
chuyển động bao hình, chuyển động chạy không, đồng thời với quá trình phân độ.
Tính theo công thức:
Xích chạy dao: Động cơ M2-5-6-is-7-8- bánh răng Z0.
Phương trình điều chỉnh động học:
*Xích phân độ: Trong chu kỳ gia công một răng bàn máy mang phôi bánh răng
quay phân độ được Zi răng (Zi: số răng phân độ đế mài răng tiếp theo). Vậy xích
phân độ liên kết từ bánh răng Z0 – 8 – 9 – iy – 10 – 11 – -Ạ- – Phôi bánh răng.
Phương trình điều chỉnh động học:
* Xích bao hình: Chuyến động bao hình chỉ xảy ra trong thời gian công tác, khi
bánh răng Z0 đang ăn khớp với vành răng lớn của bánh răng tổ hợp. Vì vậy xích
động học bao hình xác định như sau:
Vít me dọc(dân động bàn trượt)
Bàn máy mang phôi quay.
Lượng di động tính toán xích bao hình xác định theo quan hệ động học truyền
động thanh răng bánh răng:
Lập trình vận hành máy CNC Lập trình, Vận Hành, Gia công



