Chuẩn bị máy, kiểm tra phôi.
Chọn máy phay, thử máy kiểm tra độ an toàn về điện, cơ, hệ thống bôi trơn, điều chỉnh các hệ thống trượt của bàn máy. Kiểm tra phôi (vạch dấu nếu cần), xác định được vị trí cắt, số lần cắt (phôi có chiều rộng lớn), phương án kiểm tra. Khi phay mặt định hình dùng để lắp ghép hoặc truyền động nên chú ý tới các mặt phẳng các đường thẳng liên quan và độ nhám của chi tiết, ngoài ra phải chuẩn bị chi tiết lắp ghép nếu có.
- Gá và hiệu chỉnh dao phay định hình
Chọn dao phay có hình dạng lật ngược với mặt định hình cần gia công. Gá dao trên trục chính, xiết nhẹ, hiệu chỉnh và xiết chặt dao.
Lưu ý:
+ Nếu sử dụng dao phay tổ hợp phải xác định chính xác vị trí của dao để chọn vòng đệm phù hợp.
+ Dao lắp càng gần thân máy càng tốt (miễn không ảnh hưởng đến quá trình cắt).
- Gá, rà và hiệu chỉnh phôi.
Việc gá phôi và hiệu chỉnh phôi khi gia công các mặt định hình bằng dao phay định hình là một công việc đòi hỏi sự tập trung. Bởi kích thước phôi có hình dạng và đặc thù riêng. Phôi được gá chủ yếu lên bàn máy với các dụng cụ gá kẹp như: Vấu kẹp, các loại mặt bích, phiến gá. Với những chi tiết nhỏ, trung bình phù hợp ta có thể sử dụng các loại êtô gá. Tùy theo hình dạng kích thước và các yêu cầu kỹ thuật mà có cách rà, hiệu chỉnh phôi cho phù hợp. Ví dụ như: Cần song song với mặt bên hoặc tạo với mặt bên một góc nào đó v.v…
- Chọn tốc độ trục chính và lượng chạy dao
Tra bảng phụ lục (nhưng chỉ được chọn bằng 2/3 so với các phương pháp gia công thông thường).
- Chọn chiều sâu cắt: Chiều sâu cắt được xác định bằng bàn dao ngang và phụ thuộc vào tính chất vật liệu để chọn cho phù hợp.
- Chọn phương pháp tiến dao.
Theo hướng tiến dọc, ngang có khi lên xuống.
- Tiến hành phay
Khi đã thực hiện xong các bước chuẩn bị, ta tiến hành so dao để xác vị trí tương đối giữa tâm dao và vị trí cắt. Khi xác định xong ta nhớ khóa chặt bàn máy ngang lại để tránh sự dịch chuyển không cần thiết và đây là công việc dễ xảy ra sai hỏng cho nén phải hết sức thận trọng.
Diều chỉnh chiều sâu cắt bằng cách cho dao phay tiếp xúc vớ. bề mặt trên của chi tiết sau đó nâng bàn máy lên một khoảng tương ứng. Sử dụng phương pháp phay nghịch (hình 4.4) kết hợp với hướng tiến của bàn máy dọc. Phay thử, sau khi phay thử, nên dịch chuyển máy ra khỏi vị trí cắt, lâm kiểm tra mặt định hình bằng dưỡng hoặc thước cặp (có thể ướm chốt nếu có). Nếu kích thước rãnh đảm bảo thì cứ giữ nguyên dao cắt cho đến khi mặt phay được phay hết chiều dài. Trong trường hợp có kích thước sầu, rộng thì tùy thuộc vào đó mà có thể cắt 2 hay nhiều lượt.
Nếu mặt định hình có nhiều hình dạng khác nhau mà không thể sử dụng một dao, thì ta có thể sử dụng dao phay tổ hợp, Dao phay tổ hợp (hình 4.3) để gia công kết hợp giữa mặt lõm và mặt phẳng ngang (hình 4.5).
Trong trường hợp này chọn số vòng quay của trục chính phải Trước hết, xác định tốc độ cắt tối ưu cho từng dao trong tổ hợp. Dựa theo tốc độ cắt trục chính cho mỗi dao. Từ những kết quả nhận được, ta chọn số vòng quay nhỏ nhất, bởi vì nếu chọn số vòng quay lớn nhất thì tốc độ cắt của các dao còn lại sẽ tăng và như vậy tuổi bên của các dao sẽ giảm. Lượng chạy dao phút cũng được xác định theo dao giới hạn tức là theo giá trị nhỏ nhất. Điều này có nghĩa là đối với mỗi dao phay trong tổ hợp, phải xác định lượng chạy dao răng với giá trị cực dạy cho phép (số răng của mỗi dao lúc này đã biết). Do số vòng quay của tất cả các dao trong tổ hợp như nhau, cho nên có thể xác định được lượng chạy dao vòng (sv) cho mỗi dao. Từ các giá trị giới hạn nhỏ nhất sau đó xác định lượng chạy dao phút (sp). Có thể xảy ra trường hợp: Số vòng quay là giới hạn của dao này, nhưng lượng chạy dao phút Sp lại là giới hạn của dao khác.
Lập trình vận hành máy CNC Lập trình, Vận Hành, Gia công

