Bản vẽ kỹ thuật trong thiết kế và gia công cơ khí

Để trình tự của tất cả các công việc gia công và lắp ráp trong một xưởng được đúng kế hoạch, ta cần có nhiều loại thông tin từ nhiều nguồn khác nhau. Những thông tin này phải được thể hiện sao cho người nhận không hiểu sai và có thể dùng cho những ứng dụng tiêp theo.
Truyền thông kỹ thuật là việc xử lý, chuyển tiếp và lưu trữ các thông tin kỹ thuật.
Truyền thông kỹ thuật có thể diễn ra giữa người với người, cũng có thể giữa người và máy, cũng như giữa nhiều máy khác nhau (Hình 1). Ngoài ngôn ngữ, người ta còn dùng các phương tiện truyền thông khác để trao đổi thông tin.

Các phương tiện thông tin quan trọng nhất là:
■ Các bản vẽ kỹ thuật

■ Các bảng kê chi tiết
■ Các sơ đồ

■ Các bảng tra cứu
■ Các biểu đồ

■ Các chương trình
Đối với việc sản xuất, lắp ráp và bảo dưỡng các hệ thống cơ điện tử, trước đây cũng như sau này, thì các bản vẽ kỹ thuật dưới nhiều hình thức khác nhau vẫn là phương tiện thông tin quan trọng nhất.

2.1 Bản vẽ kỹ thuật làm phương tiện thông tin

Theo DIN 199, các bản vẽ kỹ thuật là những tài liệu có dạng phù hợp cho từng mục đích kỹ thuật.

Đối với bàn vẽ kỹ thuật, thí dụ: bản vẽ chứa các thông tin và hướng dẫn cần thiết cho việc sản xuất một chi tiết, những yêu cầu được đặt ra khác hơn là đối với bản vẽ chỉ dẫn lắp ráp chi tiết này vào trong một hệ thống cơ điện tử phức tạp. Cho nên khái niệm chung “Bản Vẽ Kỹ Thuật” chỉ nhiều loại trình bày hoàn toàn khác biệt nhau.

2.1.1 Các loại trình bày

Tùy theo mục đích sử dụng và nhiệm vụ của bản vẽ kỹ thuật, ta vẽ một hoặc nhiều chi tiết cần biểu diễn từ một hoặc từ nhiều hướng nhìn và hình không gian ba chiều (hình phối cảnh) khi cần thiết.
Trình bày phối cảnh (hình chiếu trục đo)
Tất cả các chi tiết dùng trong một hệ thống kỹ thuật đều là những vật thể ba chiều. Nhưng vì chi tiết được biểu diễn trên tờ giấy vẽ chỉ có hai chiều, nên rất khó để trình bày các chi tiết phức tạp sao cho người xem bản vẽ có thể hình dung rõ ràng về hình dạng của chi tiết. Ấn tượng không gian ba chiều, tương tự như ảnh chụp, được tạo ra qua cách biểu diễn phối cảnh (hình chiếu trục đo). Cách biểu diễn này cũng thường được dùng dưới dạng phác thảo bằng tay, để mô tả hình dạng phức tạp cho những người xem không được đào tạo chuyên ngành.
về cơ bản, các kiểu phối cảnh trục đo được phân biệt như sau:

■ Phép chiếu trục đo vuông góc đều (isometric)
■ Phép chiếu trục đo xiên đứng cân (dimetric)
■ Phép chiếu trục đo xiên góc đều (cavalier)
■ Phép chiếu trục đo xiên góc cân (cabinet)
Sự khác biệt của mỗi cách chiếu được thể hiện qua những góc của các trục tọa độ, trên đó biểu diễn chiều dài và chiều ngang của vật thể, chiều dài biểu diễn (hệ số biến dạng qui ước) của các cạnh của vật thể cũng nằm trên các trục tọa độ này (Hình 1).

Trình bày theo một hình chiếu
Phép chiếu một phía của vật thể ba chiều lên trên mặt phẳng hai chiều (bản vẽ) được gọi là hình chiếu.
Đối với các bộ phận phẳng, các khối chữ nhật đơn giản và các vật xoay dạng hình trụ (vật thể có đối xứng trục quay), hầu hết chỉ cần một hình chiếu như vậy là đủ để trình bày chi tiết.
Đối với các chi tiết gia công phẳng, kích thước chiều thứ 3 có thêm ghi chú về độ dày (thí dụ t =3), ở các khối chữ nhật với trục quay ký hiệu hình vuông (thí dụ D20) và ở các chi tiết đối xứng với trục quay số liệu của đường kính (thí dụ Φ18). Sự đối xứng của chi tiết được trình bày bằng cách vẽ đường tâm (trục đối xứng).

Trình bày theo nhiều mặt chiếu (hình chiếu)
Đối với các bộ phận phức tạp thì hình chiếu một mặt không đủ để diễn tả rõ ràng hình dạng của vật thể. Trong trường hợp này, chi tiết gia công phải được trình bày bằng nhiều mặt chiếu áp dụng phép chiếu song song vuông góc (Hình 3). Theo DIN 5, những mặt chiếu có thể có của một vật thể được qui định theo sáu hướng nhìn:
Mặt chiếu từ hướng a: Mặt trước hình chiếu đứng
Mặt chiếu từ hướng b: Mặt trên hình chiếu bằng
Mặt chiếu từ hướng c: Mặt trái hình chiếu cạnh
Mặt chiếu từ hướng d: Mặt phải hình chiếu cạnh
Mặt chiếu từ hướng e: Mặt sau hình chiếu
Mặt chiếu từ hướng f: Mặt dưới hình chiếu (Hình 1)

Sự sắp xếp của từng mặt chiếu căn cứ theo hình chiếu từ phía trước được quy định trong phương pháp chiếu và được ký hiệu bằng một biểu tượng tương ứng (Hình 2). Các nước Âu châu, phần lớn làm việc theo phương pháp chiếu 1, các nước ngoài Âu châu thường theo phương pháp chiếu 3.

 


Nguyên tắc cơ bản sau luôn có giá trị không phụ thuộc vào phương pháp chiếu:

Một chi tiết gia công luôn được trình bày trong nhiều hình chiếu và ghi kích thước một cách rõ ràng.

Bài tập:

Bạn hãy lập bản vẽ kỹ thuật tất cả các diện có thể có cho vật thề được minh họa bên phải.


Bạn hãy thực hiện việc vẽ theo phương pháp hình chiếu 1 và 3.

2.1.2 Bản vẽ chi tiết rời

Các bản vẽ chi tiết rời phục vụ cho việc chế tạo các chi tiết gia công. Bản vẽ này cũng thường được gọi là bản vẽ gia công. Để chế tạo tốt nhất các bộ phận, các bản vẽ này phải bao gồm tất cả những thông tin cần thiết, thí dụ như: về kích thước, về đặc tính bề mặt, về vật liệu v.v…
Việc sử dụng các loại đường nét khác nhau có thêm ý nghĩa đặc biệt khi tạo các bản vẽ gia công. Kết hợp thêm với độ đậm của nét vẽ thì các loại đường nét chuyển đạt những thông tin quan trọng về đường biên, đường đối xứng, kích thước của bộ phận và những thông tin khác (Hình 1).

Chi tiết với dạng cơ bản lăng trụ
Ngoại trừ các bộ phận được đúc hay rèn, các chi tiết gia công được chế tạo ra từ các vật liệu bán thành phẩm. Các chi tiết cán phẳng hay cán định hình, đúc, ép hay kéo (Hình 1) được dùng cho các bộ phận dạng lăng trụ, các chi tiết này có hình dạng như mong muốn là nhờ các phương pháp gia công đa dạng. Mặc dù sau khi gia công nhiều lần, hình dạng gốc hầu như không nhận ra được, nhưng có thể giúp nhiều cho việc hình dung từng mặt chiếu. Chi tiết gia cộng dạng lăng trụ được biểu diễn trong nhiều mặt chiếu khác nhau (xem trang 73) thành bản vẽ gia công. Trong đó mặt chiếu nổi bật (thể hiện rõ ràng, chính xác) được chọn là chính diện (nhìn từ phía trước) (Hình 2).


Khi chọn các mặt chiếu khác, ta phải chú ý sao cho qua đó những thông tin mới bổ sung thêm về hình dạng của chi tiết cũng được thể hiện (cung cấp) qua mỗi mặt chiếu tương ứng. Chẳng hạn ở các thanh định hình không gia công, hình chiếu bằng từ trên và hình chiếu đứng từ trước thường giống nhau. Vì vậy, các diện của prôíin chỉ được xác định rõ từ hình chiếu cạnh từ trái, phải (Hình 3).

Với các tia chiếu, kích thước chiều rộng được truyền vào hình chiếu bằng từ trên và hình chiếu dưới, nếu cần. Cũng với cách này, kích thước chiều cao được chiếu vào hình chiếu cạnh trái, phải từ các cạnh cần thiết. Qua một đường phụ trợ (đường chuyển hướng) nghiêng 45°, mỗi diện còn thiếu có thể được khai triển từ những giao điểm phát sinh (Hình 3, Trang 76).
Khi các chi tiết gia công được biểu diễn đối xứng trong từng hình chiếu, thì điểm này được làm rõ bằng cách vẽ các trục đối xứng (Hình 4).


Qui định vẽ cho trục đối xứng:
■ Trục đối xứng được ký hiệu bằng đường tâm (nét chấm gạch mánh).
■ Độ dài của nét gạch Chĩnh theo độ lớn của chi tiết gia công
■ Trục đối xứng bắt đầu và kết thúc luôn bằng một nét gạch, nét gạch ló ra khỏi ngoài cạnh biên của chi tiết khoảng 3 mm.

■ Đường tâm luôn cắt cạnh của chi tiết gia công bằng nét gạch.
■ Chi tiết gia công đối xứng qua hai hướng, điều này được thể hiện bằng một hình chữ thập của hai đường tâm giao nhau.
Những qui định về đường tâm vẫn có giá trị khi hình dạng thay đổi không đáng kể ở một phía đối xứng của nó.

Các hình thức gia còng những dạng CO’ bản hình lăng trụ
Những khả năng biến đổi hình dạng vật liệu bán thành phẩm cố thể giảm thành vài loại cơ bản. Trong thuật ngữ vẽ kỹ thuật, chúng được gọi là: tách rời (cắt đẩy ra), vạt nghiêng, làm tròn ngoài và trong, lỗ xuyên qua, rãnh và lỗ khoan (Hình 1).

Các phương pháp gia công khác nhau, thí dụ như vát nghiêng và tách rời (cắt đầy ra) có thể trình bày hoàn toàn giống nhau trên mặt chiếu riêng lẻ. Do đó, việc diễn tả nổi bật chỉ thực hiện được khi liên kết với các mặt chiếu khác (Hình 2).


Trình bày các cạnh khuất
Khi gia công các phôi, các cạnh của chi tiết thường phát sinh thêm; các cạnh này cũng không thể thấy được trong tất cà các mặt chiếu. Trong trường họp này, chúng được gọi là các cạnh khuất và được mô tả bằng nét đứt mảnh (loại nét F) (Hình 3).

 

Những quy định cho nét vẽ:
■ Mỗi vạch kẻ dài bằng nhau và cách quãng bằng những khoảng trống ngắn.
■ Chiều dài của mỗi vạch kẻ tùy thuộc vào độ lớn của bản vẽ và có thể dài đến tối đa 10 m.
■ Nét liền đậm về nguyên tắc được ưu tiên trong khi vẽ.
■ Nét đứt mảnh được kéo sát hoàn toàn đến cạnh của vật thể.
■ Hai cạnh khuất đụng nhau tạo thành một góc.
■ Khi kéo dài cạnh của vật thể, nét đứt bắt đầu với một khoảng trống.

Bài tập:

Hãy tạo các bản vẽ chi tiết rời với ba mặt từ các thành phần theo hình bên dưới.

Chi tiết dạng trụ
Để biểu diễn một chi tiết hình trụ chưa gia công, thông thường chỉ cần một mặt chiếu là đủ (xem trang 75). Tuy nhiên khi qua gia công chi tiết có thể phát sinh những thay đổi rất phức tạp, khiến ta cần phải có thêm những mặt chiếu. Qua đó những thay đổi không chỉ tùy thuộc vào hướng mà còn vào loại gia công. Thí dụ một khớp nối hình lăng trụ chạy song song với trục chính gây ra sự thay đổi ít hơn về hình dạng (Hình 1a) và dễ trình bày hơn là so với một lỗ khoan thẳng góc với trục chính, hay lỗ khoan nghiêng lệch tâm xuyên qua hay tách vết khía nghiêng (Hình 1b).

Thông thường, việc vẽ những giao tuyến hình thành phức tạp này không phải là nhiệm vụ của kỹ thuật viên cơ điện tử. Kỹ thuật viên phải có khả năng đọc hiểu và đúc kết được những phương cách gia công từ hình dạng của những giao tuyến đó. Ngày nay, những họa viên kỹ thuật, thông thường là người chịu trách nhiệm dựng bản vẽ, được giảm tải ngày càng nhiều nhờ hệ thống CAD khi khai triển và biểu diễn các đường cong này (Hình 2).

2.1.3 Trình bày hình cắt

Trong nhiều trường hợp, phần bên trong của chi tiết gia công không được những cạnh khuất trình bày nổi bật chi tiết, vì nếu các nét đứt quá nhiều thi bản vẽ không rõ ràng. Trong những trường hợp này, ta dùng hình cắt thể hiện chi tiết.

Theo DIN 6, trình bày hình cắt là sự chia cắt tường tượng một chi tiết bằng một hay nhiều mặt phầng.

Những mặt phẳng này được gọi là mặt phẳng cắt, những bề mặt phát sinh qua đó gọi là mặt cắt (Hình 1a). Trong hầu hết trường hợp, mặt phẳng cắt đi qua trục tâm của chi tiết gia công. Cách vẽ này rất hiệu quả với chi tiết tròn xoay (Hình 1 b). ở trường hợp này, cũng có thể chỉ cắt nửa phần. Kết quả được gọi là hình cắt bán phần (Hình 1 b). Nếu mặt phẳng trình bày không là mặt phẳng giữa, thì phải vẽ vị trí cùa đường cắt vào trong hình chiếu không cắt (Hình 1d). Ngoài ra, ở một mặt phẳng cắt không liên tục còn phải ghi dấu những điểm uốn tương ứng của tiến trình cắt. Một số thành phần của chi tiết gia công được trình bày dưới dạng hình cắt một phần (Hình 1c).

Các qui định đọc và vẽ các hình cắt là:
■ Những cạnh hiện rõ ra qua nhát cắt được vẽ bằng nét liền đậm.
■ Mặt cắt, tức là phạm vi tiếp xúc với mặt phẳng cắt tường tượng, được kẻ đường gạch bóng.
■ Đường gạch bóng được trình bày bằng các nét liền mảnh song song nghiêng 45°, các khoáng cách đều và tùy thuộc vào độ lớn của mặt cắt.
■ Không có nét liền chạy qua mặt cắt.
■ Các mặt cắt của một chi tiết gia công phải được kẻ đường gạch bóng theo cùng một chiều.

■ Cạnh khuất chỉ được vẽ vào mặt cắt trong trường hợp ngoại lệ.
■ Trong hình cắt phân nửa, nửa phần dưới hoặc nửa phần bên phải của chi tiết gia công được trình bày dưới dạng hình cắt.
■ Cạnh phát sinh dọc theo đường tâm do cắt rời một phần tư của hình cắt bán phần thì không được vẽ.
■ Hình cắt một phần được giới hạn bởi các nét vẽ tay mảnh.
■ Ký hiệu vết cắt thể hiện bằng nét chấm gạch đậm và chữ in hoa.

2.1.4 Ghi kích thước cho từng bộ phận

Khi chế tạo một bộ phận, ngoài sự trình bày rõ ràng thì việc ghi kích thước cũng rất quan trọng. Ghi kích thước bao gồm các đường gióng (đường phụ), đường kích thước và chữ số kích thước. Đường kích thước và đường dóng là đường liền mảnh, phải có khoảng cách với cạnh vật thể ít nhất 10 mm và cách nhau ít nhất 7 mm. Các kích thước dài được vẽ song song với các cạnh của vật thể sao cho không được cắt nhau. Trong ngành cơ khí, mũi tên kích thước được dùng để định giới hạn các kích thước (Hình 1).

Sự sắp đặt các kích thước phải tuân thủ theo rất nhiều quy định, chúng đã được tiêu chuẩn hóa theo DIN 406-11. Vì thế ở đây chỉ nêu ra các quy định quan trọng nhất.

Quy định ghi kích thước:
■ Các kích thước phải luôn luôn liên quan với phần tử chuẩn kích thước, thí dụ như các bề mặt hay các cạnh. Các kích thước đó cũng được dùng làm chuẩn khi gia công và kiểm tra.
■ Mỗi kích thước chỉ được ghi một lần, tránh ghi hai lần.
■ Khi trình bày một bộ phận với nhiều mặt chiếu thì ghi các kích thước vào nơi mà chi tiết gia công dễ nhận biết nhất.
■ Các bộ phận đối xứng được ghi kích thước qua đường tâm (trục đối xứng).
■ Trong bản vẽ, kích thước luôn luôn được ghi với độ lớn thật, kể cả khi bộ phận không được vẽ bằng tỷ lệ 1:1.
■ Những kích thước phát sinh khi gia công, không được ghi hoặc ghi trong ngoặc đơn là kích thước tham khảo (phụ).

Nên tránh các chuỗi kích thước, vì chúng có thể dẫn đến lỗi gia công do dung sai.
Đường gióng kích thước góc phải quy về đỉnh góc, đường kích thước được vẽ trong trường hợp này là cung tròn.
Khi ghi kích thước của đường kính phải thêm vào ký hiệu 0, dạng vòng tròn có nhận biết được hay không.
Việc ghi kích thước bán kính thì tùy thuộc vào chỗ trống. Trong mọi trường hợp phải ghi chữ R trước chữ số kích thước.
Khi vị trí của tâm bán kính rõ ràng thì có thể bỏ qua việc biểu hiện nó. Nếu không thì tâm bán kính phải được trình bày và ghi kích thước.
Khi nhiều bán kính bằng nhau, thì không cần phải ghi kích thước. Trong trường hợp này ghi chú “Tất cả bán kính không ghi kích thước = …mm” là đủ.

2.1.5 Trình bày ren

Trong các bản vẽ kỹ thuật, việc trình bày ren chính xác là không thể được. Do đó, việc trình bày ren được đơn giản hóa. Qua đó, cả biên dạng (proíin) ren lẫn bước ren đều không được vẽ. ở ren ngoài, chân ren được vẽ bằng nét liền mảnh và đỉnh ren bằng nét liền đậm. ở ren trong thì trình bày ngược lại (Hình 1). Đoạn kết thúc ren được trình bày bằng nét liền đậm.


Trong hình chiếu cạnh, chân ren hoặc đỉnh ren được trình bày bằng ba phần tư vòng tròn.

Trình bày ren trong hình cắt

Trong biểu diễn hình cắt của ren, các đường gạch mặt cắt luôn luôn phải được vẽ chạm vào các nét liền đậm. Điều này áp dụng cho cả ren ngoài lần ren trong (Hình 2).


Ren khuất

Khi ren trong hoặc ren ngoài bị che khuất bởi các phần khác thì đỉnh ren và chân ren được vẽ bằng nét đứt mảnh, cũng giống như tất cả các phần của chi tiết gia công bị che khuất khác. Qua sự sắp xếp của % vòng tròn mà có thể nhận biết được đó là ren ngoài hay trong (Hình 3).

Ghi kích thước của ren

Các ren tiêu chuẩn được ghi kích thước bằng các ký hiệu viết tắt. Các ký hiệu này bao gồm:
■ ký hiệu cho loại ren (thí dụ: M cho ren hệ mét)

■ đường kính danh nghĩa
■ các thông tin tiếp theo, thí dụ như chiều dài ren, bước ren, hướng xoắn của ren (Hình 4).

Trình bày bu lông và đai ốc

ở bu lông, bên cạnh các ren, đầu bu lông là một đặc điểm phân biệt quan trọng và là cốt lõi của ký hiệu bu lông (Hình 5).


Việc trình bày ren bu lông tiến hành theo cùng các quy định như cho các ren khác. Kích thước của bu lông được tra từ các danh mục bu lông chuẩn (xem thêm sách Cẩm nang).

 2.1.6 Các chi tiết được chuẩn hóa

Cũng như việc trình bày bu lông và đai ốc, những chi tiết được chuẩn hóa khác, thí dụ như là lỗ khoét, xén rãnh thoát, khía gai nhám, lỗ tâm cũng phải tuân theo những quy định trình bày nhất định.

Trình bày các rãnh thoát

Các vai gờ của trục và đoạn thoát ren không bao giờ được làm sắc cạnh chính xác vì lý do gia công cũng như vì độ bền.Thông thường, thay cho đoạn chuyển tiếp sắc cạnh là một rãnh thoát tiêu chuẩn (Hình 1). Sự trình bày chính xác rãnh thoát đòi hỏi rất nhiều phí tổn. Cho nên đối với ren, sự trình bày đơn giản theo DIN 509 cũng như DIN 76 thường là đủ (Hình 2).

Kích thước cho rãnh thoát tùy thuộc vào tải trọng và đường kính trục. Tùy theo từng trường hợp, các kích thước này được trích từ sách cẩm nang. Việc gia công rãnh thoát đúng kích thước đã trở nên đơn giản hơn rất nhiều nhờ sự phổ biến của máy tiện CNC.

Trình bày gai nhám

Để thao tác dễ hơn, các bộ phận phải tác động bằng tay, thí dụ như vít điều chỉnh, tay quay, được lán vân dọc (cán gai nhám). Việc trình bày chính xác gai nhám rất khó nên việc trình bày chúng được đơn giản hóa. Các thông tin về đặc tính chính xác của gai nhám nằm trong ký hiệu (Hình 3).

Trình bày lỗ tâm

Lỗ tâm được dùng cho việc kẹp các phần tiện giữa các mùi chống tâm. Chúng được tiêu chuẩn hóa và có thể có nhiều dạng khác nhau. Theo DIN 332, lỗ tâm cũng có thể được biểu diễn giản đơn trong bản vẽ (Hình 4). Kích thước chính xác được trích từ sách cẩm nang.

Bài tập:

1 Những loại phương tiện truyền thông nào được dùng trong kỹ thuật? Hãy cho thí dụ từng loại mà bạn biết trong xí nghiệp đào tạo của bạn.
2 Bạn biết những loại bản vẽ kỹ thuật nào? Bạn hãy trình bày những khả năng sử dụng hợp lý.
3 Nguyên tắc cơ bản nào được áp dụng cho số lượng các hình chiếu trình bày trong bản vẽ kỹ thuật?
4 Trình bày hình cắt đáp ứng mục đích gì?
5 Bạn hãy nêu ra những quy định ghi kích thước quan trọng nhất phải tuân thủ trong các bản vẽ kỹ thuật cơ khí.
6 Ren trong và ren ngoài được trình bày bằng cách nào?

2.1.7 Bản vẽ nhóm lắp ráp

Hệ thống kỹ thuật luôn bao gồm nhiều bộ phận riêng lẻ hay nhiều nhóm lắp ráp (hệ thống con), các bộ phận này thực hiện các nhiệm vụ hoàn toàn khác biệt nhau. Cơ sở quan trọng đối với việc gia công các bộ phận lá bàn vẽ chi tiết, còn bản vẽ lắp ráp hay bản vẽ tổng thề dùng cho việc lắp ráp các cụm máy hay toàn bộ hệ thống (Hình 1). Các bản vẽ này cho thấy các bộ phận, trong không gian ba chiều, được lắp với nhau thành một cụm hay một hệ thống hoàn chỉnh. Trong đó, ngoài tất cà các bộ phận riêng lè cỏn cõ các bộ phận tiêu chuẩn như vòng đệm, bu lông, chốt, lò xo v.v… Kết cấu và chức năng của các nhóm lắp ráp được trình bày phải được nhận rõ được từ bản vẽ lắp ráp.
Các quy định trình bày cho bản vẽ nhóm lắp ráp và bàn vẽ tổng thể cũng giống như các quy định cho các bộ phận riêng lẻ. Những chi tiết rời phức tạp (thí dụ: bánh răng) có thề trình bày giản đơn theo quy ước (xem sách cẩm nang). Khi ghi kích thước nên giới hạn vào nhóm lắp ráp và hệ thống tổng thể, thì chỉ ghi các kích thước lắp ráp quan trọng và các kích thước cần thiết cho chức năng.

Thành phần quan trọng của bản vẽ lắp ráp là bảng kê các chi tiết (Hình 2). Bên cạnh các thông tin về tên gọi bộ phận riêng lẻ, số vị trí, vật liệu, bảng kê còn bao gồm cả số lượng của mỗi bộ phận được dùng. Vj trí các chi tiết trong bảng kê được ký hiệu trong bản vẽ lắp ráp hay bản vẽ tổng thể bằng sổ vị trí. Bảng kê các chi tiết trong những bản vẽ nhỏ có thể là một thành phần cùa khung tên; ở những bản vẽ có rất nhiều chi tiết, bảng kê là một tờ riêng.
Hình thức của bảng kê được tiêu chuẩn hóa theo DIN ISO.

2.2 Bảng và biểu đồ

Bên cạnh bàn vẽ kỹ thuật, các bảng (sắp xếp) và các dạng biểu đồ khác nhau chủ yếu được dùng để làm rõ các mối tương quan kỹ thuật.

 

2.2.1 Bảng

Trong các bảng (tra cứu), các trị số được trình bày rõ ràng (Hình 1), các tiêu chí (ký hiệu, tên gọi…) ghi ở dòng đầu và cột đầu. Bằng cách gióng theo phương pháp ngang và dọc, ta sẽ xác định được trị số muốn tìm trong với cột và dòng thích ứng.

2.2.2 Biểu đồ

Biểu đồ là sự trình bày bằng đồ họa trong một hệ trục tọa độ. Qua biểu đồ, những liên hệ về trị số giữa các đại lượng biến đổi được trình bày bằng hình ảnh.

Hệ tọa độ vuông góc

Hai trục thẳng góc với nhau tạo thành cơ sở của hệ trục tọa độ. Điểm gốc (điểm 0) của hệ trục tọa độ là giao điểm của trục hoành nằm ngang với trục tung thẳng đứng. Trị số dương được tính từ điểm này về phía bên phải, hướng lên trên; trị số âm tính từ điểm gốc qua trái hoặc xuống dưới. Đề điền các trị số, các trục phải có thông số tỉ lệ. Phần lớn đường biểu diễn là tuyến tính (Hình 2), trong trường hợp hiếm có thể là dạng lôgarít (Hình 3). Các đường trình bày đặc tính (đồ họa) cho biết mối liên hệ hàm số của các đại lượng biến đổi.

Hệ tọa độ cực

Trong hệ tọa độ cực, một mặt tròn được chia 360°. Tại đây, góc 0° được quy định cho trục tia từ tâm theo phương ngang về phía bên phải. Gốc dương được tính từ đó ra ngược chiều kim đồng hồ, góc âm cùng chiều kim đồng hồ (Hình 4).

Biểu đồ trụ

Biểu đồ trụ thích hợp cho sự trình bày rõ ràng những sự thay đổi đơn giản hay các thành phần kết nối theo phần tỷ lệ. Thông thường, trong biểu đồ thanh và cột (Hình 5), các số chỉ số lượng được ghi trên trục đứng, trục ngang gồm những thông tin đối ứng với nhau (thí dụ khí carbon, ni tơ, hydro carbon cho mỗi năm).

Trong biểu đồ vòng tròn, sự phân chia theo tỷ lệ được trình bày bằng độ lớn của diện tích thành phần (Hình 1). Toàn bộ diện tích vòng tròn tương ứng với 100%. Khi diện tích vòng tròn được trình bày kiểu phối cảnh và có thêm chiều cao thì ta gọi đó là biểu đồ hình bánh kem.


Trong biểu đồ Sankey, các thành phần tỷ lệ được tính theo chiều rộng ban đầu của biểu đồ (Hình 2).


Biểu đồ Sankey và biểu đồ vòng tròn chủ yếu dùng đẻ hiển thị các thay đổi và các thành phần cấu tạo. Biểu đồ này tỏ ra hạn chế khi trình bày các thông tin định tính và cần chính xác.

Biểu đồ trạng thái

Biểu đồ trạng thái thích hợp nhất cho việc trình bày các trình tự điều khiển bằng đồ họa, như tiến trình điều khiển và sự kết nối của các bộ phận. Khi chi riêng tiến trình phụ thuộc theo từng bước tương ứng được trình bày, ta có biểu đồ hành trình – bước (Hình 3); khi sự trình bây tiên trình phụ thuộc vào thời gian, ta có biểu đồ hành trình – thời gian (Hình 4).

 

2.3 Truyền thông kỹ thuật với sự trợ giúp của sơ đồ

Truyền thông kỹ thuật bằng đồ thị thường không phụ thuộc vào kỹ thuật thiết bị sử dụng. Tuy nhiên, khi cần chuyển tiếp các thông tin kỹ thuật thiết bị và kỹ thuật mạch đặc biệt (kỹ thuật điện, khí nén, thủy lực v.v…), thi các thông tin này phái được xác định dưới dạng một sơ đồ.
Những quy định để thiết lập sơ đồ điện, khí nén, thủy lực được tiêu chuẩn hóa theo DIN ISO. Trong khuôn khổ của quyền sách chuyên ngành này, các đặc tính chuyên biệt đó được đề cập trong từng chương chuyên môn.
Bài tập:
1 Hãy tìm trong sách cẩm nang tối thiểu năm biểu đồ khác nhau với hệ thống trục tọa độ vuông góc, tuyến tính.
2 Hãy giải thích các thông tin trong các biểu đồ.
3 Hãy tìm một đồ thị lôgarít và một đồ thị tọa độ cực và hãy giải thích từng loại.
4 Hãy tạo biểu đồ thanh ngang/cột và biểu đồ hình bánh kem về sự phân bố tuổi của các bạn trong lớp bằng phần mềm Office.

2.4 Ngôn ngữ làm phương tiện truyền thông

Bên cạnh tất cả các phương tiện trợ giúp cho việc truyền thông kỹ thuật được dễ dàng, ngôn ngữ, bao gồm lời nói và chữ viết, cũng là một phương tiện truyền thông không thể thiếu. Các công nhân lành nghề ngày càng phải có khả năng dùng phương tiện truyền thông này một cách chuyên nghiệp. Quá trình trao đổi với đồng nghiệp, người đặt hàng và khách hàng hoặc các biên bàn, bài thuyết trình và các công việc của dự án đều phải diễn đạt chính xác và có hệ thống.

2.4.1 Cách tạo các biên bản

Nhiệm vụ của biên bản là ghi lại nội dung và diễn biến cúa các sự kiện nhất định như họp nhỏm tồ, bàn bạc, giờ học, hội nghị, khóa họp và nhiều thứ khác, để sau đó có thể hình dung và xem lại kết quả. Ngoài ra dựa trên biên bản, những người không thể tham dự cũng được thông tin về những kết quả của sự kiện. Biên bàn dù ghi vắn tắt hay đầy đủ đêu phải đảm bảo tính khách quan, ngôn ngữ phù hợp, những đoạn quan trọng phải trích dẫn nguyên văn.
Các dạng biên bản
Cơ bản cố hai loại biên bản:

Biên bàn tường thuật diễn tiến
Biên bản kết quả

Trong biên bàn tường thuật diễn tiến, tất cà các chi tiết quan trọng và toàn thể diễn biến của sự kiện được ghi lại, trong đó phải ghi chú cả các phát biểu quan trọng nhất.
Trong biên bản kết quả chỉ ghi lại những kết quả, thí dụ như: kiến nghị, quyết định, thỏa thuận, giao ước. Thông thường thì biên bản kết quả ngắn hơn nhiều so với biên bản tường thuật, nhưng không nổi rõ được cách đi đến quyết định.

Cấu trúc của một biên bản

Biên bản gồm cố phần đầu (phần mở đầu), phần chính và cuối biên bàn là ngày tháng, địa điểm và chữ ký của người viết biên bản. Trong phần đầu thường ghi đề tài của sự kiện, địa điểm, ngày tháng và giờ cũng như tên các người tham dự. Trường hợp có nhiều người tham dự, thì đính kèm danh sách người tham dự.
Phần chính tóm tắt những bài nói quan trọng hoặc các kết quà theo thứ tự thời gian. Thư mời họp với chương mục nghị sự đã ấn định thường được gởi đi trước buổi họp.
Cuối biên bản là ngày tháng lập biên bản và chữ ký của người ghi biên bản.

Sự thiết lập một biên bản
Biên bản được lập trên cơ sở các ghi chép bởi người ghi biên bản trong suốt buổi họp. Người đó phải có khả năng phân biệt được điều quan trọng và không quan trọng ngay trong buổi họp, ghi chú nhanh và rỗ ràng những điểm quan trọng, ở đây hoàn toàn hợp lý khi sử dụng các chữ viết tắt và các ký hiệu (thí dụ ký hiệu =, —>). Trong trường hợp cần thiết, người viết biên bản có thề đề nghị người phát biểu nhắc lại hay diễn đạt rõ ràng hơn. Ngày nay, biên bàn thường được soạn trên máy tính. Cách công bố cũng như phân phối biên bàn thường đã được quyết định trước. Biên bản thường phải được chủ tịch cuộc họp hay toàn nhóm tham dự phê duyệt.

2.4.2 Tường trình và thuyết trình

Bài tường trình là một bài thuyết trình cụ thể về một đề tài nhất định,nhằm mục đích chuyển giao các kiến thức thu được. Thí dụ, một thành viên của nhóm dự án sưu tập những thông tin về các đặc tính của một loại điều khiển và tường trình những nhận định thu thập được cho các thành viên khác trong nhóm. Điều kiện đầu tiên cho sự thành công của một bài tường trình là sự tranh luận về đề tài. Cơ sở của bài thuyết trình thường là việc biên soạn kỹ lưỡng.

2.4.3 Tạo bài tường trình

Bước đầu tiên khi chuẩn bị một bài tường trình luôn luôn là xác định chính xác đề tài và giới hạn khung thời gian. Khi đề tài đã ấn định, phải thu thập và xem xét các tư liệu thông tin. Bên cạnh các tài liệu của hãng xưởng và thư viện, hiện nay nguồn thông tin quan trọng trước hết là Internet cũng như internet trong các công ty lớn. Từ tư liệu thu thập được, dựng cấu trúc sơ bộ. Trên cơ sở này tiến hành biên soạn chi tiết bài thuyết trình. Điều quan trọng ở đây là các đoạn văn lấy ra từ các nguồn khác phải trích dẫn và nêu nguồn gốc, xuất xứ đúng đắn. Từ bài viết đã được biên soạn hoàn chỉnh, có thể hình thành một bản ghi các từ khóa dùng cho việc thuyết trình bài tường trình

2.4.4 Thuyết trình bài tường trình

Bài tường trình không phải được đọc mà là thuyết trình. Quan trọng là đề tài cần được trình bày một cách thú vị cho người nghe. Vì khả năng lĩnh hội cùa con người tăng thêm khi họ thu nhận thông tin qua nhiều giác quan (thí dụ: mắt và tai – xem Hình 1, Trang 51), ta có thể sử dụng các phương tiện hỗ trợ như bảng đen, trình chiếu và những phương tiện khác để làm sáng tỏ những điểm cốt yếu. Việc các bài thuyết trình được hỗ trợ bởi các trình chiếu bằng máy tính ngày càng phổ biến (xem Chương 1.2.3). Khi trình bày phải lưu ý đến những nguyên tắc ghi trong bảng bên cạnh.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *